Hỏi:
Tôi và chồng tôi đăng ký kết hôn tại Pháp. Chồng tôi mang quốc tịch Pháp nhưng tôi vẫn còn quốc tịch Việt
(Phạm Thúy Algérie - Pháp)
Hỏi:
Tôi và chồng tôi đăng ký kết hôn tại Pháp. Chồng tôi mang quốc tịch Pháp nhưng tôi vẫn còn quốc tịch Việt
(Phạm Thúy Algérie - Pháp)
Hỏi:
Trong thời gian nghỉ hè tôi và bạn gái dự định làm đám cưới tại Việt
( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. ..)
Câu hỏi:
Tôi và anh Nguyễn Văn A chơi với nhau rất thân từ nhỏ. Năm 2008, anh Nguyễn Văn A kết hôn với chị D. Tuy nhiên, anh A không yêu chị D nên thường xuyên qua lại với tôi, dẫn đến chúng tôi chung sống với nhau và có con chung. Vậy cho tôi hỏi, tôi có vi phạm gì không? Tôi phải làm như thế nào?
(Trần Thị Bé – Bến Tre)
Câu hỏi:
Tôi là Việt kiều Đức.Vợ chồng tôi muốn nhận nuôi con nuôi tại một gia đình nghèo Việt Nam tại nơi trước đây tôi sinh ra.Vậy, cho tôi hỏi chúng tôi muốn nhận con nuôi thì chúng tôi phải làm thủ tục như thế nào? ở đâu? mất thời gian bao lâu? Chúng tôi có thể ủy quyền cho người khác đi làm thủ tục trên không vì hiện tại chúng tôi đang sinh sống tại Đức? (Tomy Nguyễn Hoàng – Đức)
Câu hỏi:
Cuối năm 2008, vì một số lý do cá nhân nên tôi sang Australia và gặp một người phụ nữ có quốc tịch Australia.Vì tôi muốn được mang quốc tịch Australia nên tôi đã thỏa thuận với cô ấy để làm thủ tục kết hôn giả để cho tôi được nhập quốc tịch Australia và định cư lâu dài ở đây. Tuy nhiên, đến đầu năm 2009 cơ quan cảnh sát ở đây phát hiện và trục xuất cho tôi trở về nước. Vậy, cho tôi hỏi pháp luật Việt
Trả lời:
Khoản 2, Điều 4 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “2.Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi”.
Theo đó, việc bạn làm thủ tục kết hôn (giả tạo) với một phụ nữ mang quốc tịch
Mặt khác, tại Điều 11 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP, ngày 23 tháng 07 năm 2009 (có hiệu lực kể từ ngày 18/09/2009) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp có quy định về xử phạt vi phạm hành chính về đăng ký kết hôn như sau:
“1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để làm thủ tục đăng ký kết hôn.
2. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
3.Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cam đoan không đúng về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn hoặc để được cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sử dụng vào mục đích khác.”
Nếu người có hành vi kết hôn giả tạo nghĩa là lợi dụng việc đăng ký kết hôn nhằm mục đích trục lợi, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động khi bị phát hiện, có thể bị xử phạt hành chính từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Ngoài ra, người vi phạm còn bị xử phạt bổ sung là:“5.Tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm b, c khoản 2 Điều này”. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người vi phạm còn bị Toà án nhân dân có thẩm quyền thu hồi và huỷ bỏ Giấy chứng nhận kết hôn đã cấp.
Như vậy, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, bạn đã có “hành vi gian dối” khi kết hôn nên có thể bị xử phạt hành chính theo quy định nói trên.
Luật sư_Nguyễn Văn Tuấn
Công ty Luật Newvision
Trang 1 trong tổng số 6